Hoàng Đ́nh Báu

Quân Số: 56A 700.769

Cấp Bậc cuối cùng: HQ Thiếu-Tá

 

 

 

 

 

 

Ngày sinh:

Ngày 20 tháng 1 năm 1936.

Nguyên quán:

Thừa Thiên, Huế.

 

Chức-vụ trong Hải-Quân:

·           1963: Phục vụ trên HQ-02 và HQ-327.

·           1964: Sửa chữa HQ-404 ở Guam.

·           1965: Sĩ quan liên lạc trên Đệ Thất Hạm Đội Mỹ ở Thái B́nh Dương.

·           1966: Trung Tâm Trưởng TTKS/V3ZH Vũng Tầu.

·           1967-1968: Duyên Đoàn Trưởng Duyên Đoàn 37, Ba-Tri, Kiến Ḥa

·           1969: Lănh Whec-2 ở Phi Luật Tân

·           1970: Hạm Trưởng HQ-608.

·           1971: Hạm Trưởng HQ-331.

·           1972: Hạm Trưởng HQ-403.

·           1973-1975: Hạm Trưởng HQ-09.

 

Hoạt động sau tháng Tư năm 1975:

            Tù cải tạo 7 năm ngoài Bắc phần VN, 1975-1982.

            Quản chế tại Sài-G̣n, 1982-1983.

            Tù cải tạo lần thứ hai 4 năm tại Chí Ḥa và Tống Lê Chân, 1983-1987.

            Bán rượu dạo ở Sài-G̣n/Chợ-Lớn, 1988-1990.

            Qua Mỹ, diện HO-9, 1991.

            Theo học Golden West và Fulleton  Cal. State University, 1992-1995.

            Security Guard, Orange County, 1995-1997.

Khởi viết, 1998. Tác giả tập thơ “Mẹ và Quê Hương” dưới bút hiệu Tam-Giang, 1999.

            Tác giả truyện-dài “Đêm Đen Quỷ Đỏ”, 2001.

 

Ghi chú của ban biên-tập:

Hoàng Đ́nh Báu có lẽ là người ít may mắn nhất trong các Bảo-B́nh. Chị Báu và bốn cháu gái tử nạn trên sông Sài-G̣n trong một chuyến vượt biên không thành. Thân mẫu của Báu cũng vừa mới qua đời ở Việt-Nam. Niềm đau hầu như vô tận đó được Báu, dưới bút hiệu Tam-Giang,  bày to  trong tập thơ ‘Mẹ & Quê Hương’, xuất bản tại California năm 1999.  Nhân dịp ra mắt ‘Đệ Nhất Bảo-B́nh – 2001’, bạn-bè cùng khóa của Báu xin được cầu nguyện cho hương-linh của những người đă khuất, và xin chị hăy phù-hộ cho anh, đểû anh được sống những ngày yên b́nh chót của cuộc đời.

 

Bài Viết:

 

Một Mối T́nh

Hoàng Đ́nh Báu

 

 

            Những h́nh ảnh rơ nét mà tôi c̣n giữ được với mẹ  tôi lúc c̣n ấu thơ là những cánh đồng lúa chín vàng, những thửa ruộng nhỏ bên con đê làng hay một chiếc thuyền đầy ấp những bó lúa.

            Hồi đó tôi là con trai trưởng trong gia đ́nh nên mọi việc đồng áng của gia đ́nh mẹ tôi đều cho tôi đi theo. Mục đích là cho tôi biết những thửa ruộng mà mẹ tôi đă tậu được nằm rải rác khắp vùng quê và cũng dạy tôi biết nghề nông chân lấm tay bùn như thế nào. Tôi thường theo mẹ tôi với hai tay xách hai b́nh nước chè xanh  lẽo đẽo sau  chân mẹ tôi đang gánh một gánh cơm nặng  trĩu với  đầy đủ chén tô và các thức ăn ra đồng lúc mặt trời gần trên đỉnh  đầu, lúc mà đám thợ gặt đang mồ hôi đằm đ́a bên thửa ruộng. Cũng có lúc tôi ra đồng một ḿnh vai vác những bó lạt tre dài để người thợ gặt bó những bó lúa to bằng ṿng tay của người lớn. Bó xong họ gánh  xuống thuyền  đậu  sẵn bên con kinh nhỏ. Khi lúa đă chất  đầy thuyền, mọi người cùng nhau đẩy con thuyền ra khỏi rạch. Con thuyền ra sông lớn. Từ đó mẹ tôi và tôi chèo thuyền về bến trong lúc đám thợ gặt mệt mỏi nằm nghiêng ngửa miệng ph́ phà điếu thuốc "cẩm lệ". Con thuyền chở nặng ch́m sâu xuống  nước chỉ cách  mạn thuyền không đầy một gang tay. Hồi đó chẳng ai nghĩ đến việc quá tải không an toàn. Mẹ tôi và tôi lại không biết bơi mà con sông  này lại quá lớn đối với tôi lúc đó. Thuyền cập bến, thợ gặt gánh lúa vào sân,  chất thành liếp ṿng tṛn  đểâ trâu lên đạp. Công việc của người thợ gặt xem như đă xong. C̣n lại tất cả  do gia đ́nh tôi làm lấy như dẫn trâu đạp, xảy rơm, chất lại thành đống. Tất cả phải làm cho đến nửa đêm mới xong. Sáng hôm sau cả nhà ra xảy rơm rồi cào lúa ra phơi. Chiều hôm sau, lúa khô cả nhà xúm nhau lại xúc đổ vào bồ vào lẫm… Nhờ làm việc cực nhọc, một nắng hai sương mà mẹ tôi đă xây dựng nhà ngang nhà dọc, con cái đều được ăn học đầy đủ.

            Rồi tháng 4-1975. Mẹ tôi bị buộc phải hiến dâng các ruộng vườn   suốt đời bà đă tạo dựng được. Bà đă  uất hận đưa hơn 3 mẫu ruộng và 5 sào đất cho “cách mạng”. Bàn tay  sạm nắng của mẹ tôi trở nên trống trải. Con người hoạt động  yêu đời ngày nào nay phải ngồi một chỗ chờ lệnh đi mua khẩu phần gạo và bo-bo. Ba tôi mất sớm trước 1975. Các chị em tôi mỗi người mỗi ngă. Tinh thần mẹ tôi rơi vào khủng hoảng nặng nề. Một ḿnh sống trong  căn nhà cũ, bà lủi thủi quanh vườn để nhổ những đám cỏ dại mọc quanh những gốc mai, gốc hồng. Thỉnh thoảng một vài người đến hỏi mua những đồ  cổ như chén bát, tủ bàn v,v,. Dần dà mẹ tôi cũng bán hết mà sống. Các chị tôi nói nhờ bán các thứ đó mà mẹ tôi đă có tiền đi thăm nuôi tôi ở trong tù. H́nh ảnh các bà mẹ, người vợ đi thăm nuôi con hay chồng “cải tạo” thời đó không bút nào tả hết, c̣n khó khăn, gian khổ hơn các cuộc vạn lư trường chinh ngày xưa. Có lần tôi thấy mẹ tôi gánh trên vai hai bao lương thực mon men bước lên đồi để đến trại thăm tôi. Bà đă vượt hằng trăm dặm đường, lội suối băng rừng mới t́m được nơi tôi ở. Làm sao tôi quên được lúc gặp tôi ở nhà “thăm nuôi”, bà đă đưa  cho tôi chén cơm trắng với miếng thịt gà xào sả ớt và bà xin với tên  cán bộ cho tôi được ăn tại chỗ. Bà nuốn thấy tôi ăn thật sự. Làm được  điều đó, có lẽ mẹ tôi sung sướng lắm.

            Thời gian qua mau. Mẹ tôi đă sống gần một thế kỷ. Tôi nghĩ nếu mẹ tôi sống  đến ngày đó tôi sẽ về VN làm lễ 100 tuổi cho bà. Thời gian lại không cho phép. Mẹ tôi lâm  bệnh và đi vào cơn mê sâu. Ba ngày sau khi được tin tôi đă có mặt ở quê nhà, một làng ở huyện Phú Vang nằm giữa thành phố Huế và cửa biển Thuận An. Gần ba tuần lễ tôi sống bên cạnh mẹ tôi và cùng chị và các em tôi săn sóc bà. Mẹ tôi không nói được, một nửa thân bên phải bị liệt. Thỉnh  thoảng bà mở to mắt, nhấp nháy hai hàng mi. Tôi nghĩ bà muốn nhắn với con cháu một điều ǵ đó.

            Với tuổi già, mẹ tôi vẫn là ngôi sao sáng của gia đ́nh. Mọi người vẫn tôn kính và yêu thương bà. Những quyết định của bà đều được mọi người nghe theo. Các cháu  chắt rất vui thích khi đến với bà v́ bà  rất yêu thương chúng và thường hay chia  sẻ mọi thứ mà bà có. Mặc dầu bà không nghe được nhưng bà biết mọi người đang lo cho bà từ miếng ăn đến giấc ngủ, từ viên thuốc đến chén trà. Những ngày cuối đời mẹ tôi sống  đầy đủ từ vật chất đến tinh thần không phải vào viện  dưỡng  lăo như một số người ở bên Mỹ hay  lang thang như một số cụ già bất hạnh ở VN.

            Buổi tối, các chị em tôi thường ngồi đọc kinh cầu an cho bà trước bàn thờ Phật, rồi các phật tử ở các khuôn hội quanh  vùng cũng đến đọc kinh. Họ đến với tấm ḷng chân thành. Tôi trả tiền công đức cho họ nhưng họ đều từ chối. Họ nghèo thật nhưng họ đă cảm hoá được tôi rằng t́nh cảm giữa người và người  đôi lúc đă đơm hoa kết trái lúc nào mà ḿnh không hay biết.

            Lúc tôi ở Huế th́ xăy ra vụ tranh đấu của LM Nguyễn văn Lư ở giáo xứ Nguyệt Biều. Vợ tôi gọi điện về muốn tôi trở lại Mỹ sớm. Tôi  cố nán lại thêm một tuần nữa nhưng khi hỏi  hăng máy bay  th́ họ bảo không c̣n chỗ. Tôi đành trở lại Mỹ ngày 25-12-2000 sau ba tuần ở VN. Trước khi đi tôi đến bên mẹ tôi, cầm tay bà rồi hôn lên trán bà.Với đôi mắt sâu và đen như thuở nào, chỉ khác mớ tóc bạc trước trán đă được các em tôi cắt ngắn cho dễ tắm gội. Tôi nh́n lại thân ḿnh mẹ tôi như bộ xương khô được quấn trong những tấm vải trắng. Tôi mang theo h́nh ảnh đó cho đến khi máy bay hạ cánh xuống phi trường Los Angeles.

            Về Mỹ tôi nằm dài, thỉnh thoảng bật internet lên xem có tin tức ǵ về mẹ tôi không, các cháu tôi ở Huế thường liên lạc với tôi bằng cách đó. Bỗng có tiếng chuông reo, tôi ra mở cửa. BB Quyên đến thăm tôi. Trong các BB ở nam Cali, Quyên là người thường đến tôi nhất v́ Quyên đang training tôi về internet sau khi BB Luân cho tôi cái computer của anh. Quyên kể tôi nghe về các BB  Nam California họp khẩn ở nhà hàng Paracels sau khi nghe tin tôi về VN. Anh  đưa cho tôi một b́ thư trong đó có tiền đóng góp của các BB  gọi là để phụ với tôi tiền máy bay. Tôi nói tôi đă có đủ. Tôi cầm bao thư mà ḷng nghĩ ngợi nhiều. Tôi thầm cám ơn các bạn nhiều. Biết nói ǵ hơn khi người ta đă nghĩ về ḿnh. Trong lúc đó Quyên  mở internet t́m e-mail. Cái message  đầu tiên Quyên  chỉ cho tôi là tin mẹ tôi mất ngày 27-12-2000 lúc 11 giờ đêm tức 8 giờ sáng giờ California. Tôi bàng hoàng, nước mắt tôi cứ thế   tuôn ra. Tôi tự trách ḿnh  sao không ở lại thêm vài hôm nữa.  Quyên an ủi tôi rồi ra về.

            Từ ngày đó tôi nhận nhiều cú điện thoại phân ưu của các BB từ Bắc cho đến Nam Cali, từ Đông cho đến miền Tây Hoa Kỳ cũng như trên internet. Sự thật tôi không muốn cho ai biết tin mẹ tôi mất nhưng rồi ai cũng biết.

            Khi viết bài nầy th́  được tin nhạc phụ của BB Hoa Em cũng từ giă cơi trần như mẹ tôi. Cuối cùng ai cũng phải ra đi, kẻ trước người sau. Ai cũng có một gia đ́nh để thương để nhớ  rồi đau buồn khi có người thân ra đi. Ngoài gia đ́nh riêng chúng ta c̣n có một gia đ́nh chung  nữa, đó là gia đ́nh Bảo B́nh.

            Gia đ́nh BB sinh ra cách đây 40 năm. Tuy có nhiều khác biệt hơn bất cứ khóa nào trong Hải Quân nhưng các BB vẫn can trường tiến mạnh trên con đường hải nghiệp bằng chứng trong các lực lượng chủ yếu của Hải Quân đều có mặt các BB nhất là   Hạm Đội, từ các  chiến hạm lớn nhất đến các chiến hạm nhỏ hầu hết đều do các BB chỉ huy. Ngày nay sau 25 năm xa quê hương, các BB đă t́m đến với nhau một cách chân t́nh bằng chứng là ngày họp mặt vào tháng 7-2001 đánh dấu 40 năm gia đ́nh  Bảo  B́nh ra đời. Các BB đă góp công góp sức vào việc hoàn thành  ‘Niên-Giám BB-2001’. Nổi cộm là các BB ở ban biên tập như Thiệu, San, Cẩm, K. Khánh…Sau mấy tháng hoạt động, các bạn đă chứng tỏ khả năng và thiện chí.

            Nh́n lại ḍng đời 40 năm tưởng chừng như mới hôm qua. Ngày nay   bạn đă ngoài thất  thập cổ lai hi, bạn trẻ nhất cũng đă gần lục tuần. Có bạn đang tận tụy với công việc, có bạn đă về hưu, và cũng có bạn đang lủi thủi bên giường bệnh.

            Tất cả chỉ c̣n lại một mối t́nh: t́nh bạn và t́nh gia đ́nh…Các mối t́nh  này ấp ủ chúng ta cho đến hết cuộc đời.

            

Hoàng Đ́nh Báu

 

Vài H́nh Ảnh Trong Cuộc Đời

Hoaøng Ñ́nh Baùu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

Töø treân xuoáng döôùi: Vôï choàng môùi cöôùi (1961), gia ñ́nh hieän taïi (1997), vôùi con trai Hoaøng Ñ́nh Quoác (1999)

 

 

 

 

 

 

 

 

      Phan lạc Tiếp đọc:

 

Đi Hết Một Ḍng Sông.

 

Tác phẩm thứ bảy của Tam Giang Hoàng đ́nh Báu.

 

Anh Tam Giang, Hoàng đ́mh Báu, người bạn Hải Quân cùng khoá với tôi, vừa in xong cuốn truyện dài mang tên Đi Hết Một Ḍng Sông và sẽ cho ra mắt trong nay mai. Đây là cuốn sách thứ bảy của anh  kể từ tập thơ Mẹ Và Quê Hương xuất bản năm 1999. Như vậy coi như mỗi năm, trung b́nh anh có một cuốn sách tŕnh làng. Làm việc như thế, anh quả là người đang sung sức. Càng viết càng hưng phấn. Những cuốn sách trước có khi là tuyển tập in chung với những người khác, tuỳ bút, hay là thơ. Tất cả, với tôi, đó là những nỗi niềm sâu kín nhưng đơn lẻ cần được giăi bày và đặc biệt chúng như những phác thảo, ḍ đường, viết cho quen tay. Người đọc bắt gặp trong những trang sách của anh nhiều nét tươi mát của những đoá hoa, đôi khi có lẫn những lá cành thô cứng. Bút pháp có nhiều đoạn nuột nà tuôn chảy, nhưng cũng không thiếu những chỗ ngập ngừng, ngần ngại. Nhưng với cuốn mới này th́ khác. Khác hẳn. Tác giả đă tŕnh làng một công tŕnh gọn ghẽ tươi mát, nội dung phong phú với bút pháp lôi cuốn hơn nhiều.

 

Đó là cuốn tuyện dài Đi Hết Một Ḍng Sông, 320 trang, gồm 15 chương. Mỗi chương là một vấn đề, với số trang tương đương, từ 20 tới 30 trang, nhưng những vấn đề trong những trang sách ấy cuốn hút, xô đẩy nhau không dứt. Điều ấy chứng tỏ tác giả nắm rất vững ḍng chảy của tâm tư và làm chủ hoàn toàn được ng̣i bút. Những trang sách ấy là chuyện kể về đời ḿnh của một người đàn bà, xưng “tôi”: “ Tôi sinh năm 1949 tại Kiến An, Hải Pḥng, miền Bắc Việt NamTôi được đặt tên là Sữa, c̣n em tôi tên là Mun. Có lẽ quê tôi có nhiều cây hoa sữa hoặc tôi có làn da trắng sao đó mà mẹ tôi thường gọi tôi là con Sữa… Nhưng trong giấy khai sinh tôi tên là Ngọc Dung… Năm 1954 hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngang tuyến 17. Miền Bắc theo chế độ cộng sản do ông Hồ chí Minh lănh đạo, c̣n miền Nam theo chế độ dân chủ do ông Bảo Đại làm quốc trưởng, sau đó được ông Ngô đ́nh Diệm thay thế. Kết quả là hàng triệu người Bắc vô Nam t́m tư do.. . ”

Như thế, năm 1954, cô bé Bắc Kỳ, từ Bắc vào Nam mới có 5 tuổi. Cô lớn lên cùng với sự h́nh thành của Việt Nam Cộng Hoà. Cô đă trưởng thành trong xă hội này và nổi trôi theo xă hội này qua Những Ngày Thơ Âu, (1) ở nhà giúp mẹ săn sóc các em, rồi chưa đủ lớn cô đă xin đi làm phu đồn điền cao su để trợ giúp gia đ́nh. Tuổi Yêu Thương, Sóng Gió Cuộc T́nh cũng như chứng kiến người Mỹ đến, cô đi làm sở Mỹ, rồi Đồng Minh Về Nước, những lao đao khi miền Nam thất thủ, những toan tính ra đi, mười chết một sống khi vượt biển t́m tư do.Những ngày đói khát vô vọng trôi trên mặt biển, rồi được tàu Anh vớt đưa vế Luân Đôn. Những ngày sống cô quạnh trong thành phố đặc nghịt sương mù. Cô vui thích, lạ lùng khi nh́n tuyết rơi đầy đất, nhưng cùng lúc cô ao ước được đi đứng, nói năng giữa cộng đồng người Việt trong một vùng nắng ấm. Cô thèm Đi Mỹ. Tới Mỹ, cô đi trong thành phố Santa Ana, bao nhiêu là người Việt, ồn ào tiếng Việt và ngập đầy những hàng quán, mùi thơm của phở, của những nhà hàng Việt Nam. Cô muốn ớ lại Mỹ, và cô được một kẻ hào phóng dẫn đi chơi Las Vegas choáng ngợp hàng triệu nhung ngọn đèn. Tại đây, mộng ước được là người Mỹ của cô thành h́nh như một cuộc chơi. Từ đó cô Dung, da trắng như sữa, lăn xả vào cuộc sống vội vă ở Nam Ca li. Cô bị cuốn hút vào việc kiếm sống cũng như ch́m ngợp trong những cám dỗ ăn chơi. Cô chứng kiến những mảnh đời lên xuống mau như nước thuỷ triều. Mới hôm nào người t́nh của cô đi xe mới cáu cạnh, nói tiếng Anh, tiếng Mễ lưu loát, điều hành một hệ thống may mặc có cả trăm người làm, tiền tiêu như nước. Rồi cũng chính người đó, vung tay quá trán, tính toán sai lầm, trở nên khánh tận, hoá ra kẻ vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ, ngẩn ngơ không c̣n biết ḿnh là ai. Và trong khối ngựi Việt tha hương ấy lớn lên cùng với những thành công về nhiều mặt, con cái trưởng thành, là những chuyên viên lỗi lạc trong nhiều lănh vực kỹ thuật cũng như cả về chính trị, kinh doanh, nhưng nỗi hoài hương hầu như là một căn bệnh, tuy nhẹ nhàng, nhưng luôn ám ảnh mọi người, nhất là những người đă lớn lên từ quê hương xa cũ. Cô Ngọc Dung cũng mang tâm trạng đó, nên như rất đông người Việt nơi hải ngoại, cô đă Về Việt Nam, đi thăm những người thân quen, những nơi cô đă sống. Và cô đă đi Tư Nam Ra Bắc, T́m Lại Chốn Cũ, nơi mà thân mẫu cô đă được sinh ra. Cô đă thấy những nỗi khốn cùng và cả những oan khiên của người dân miền Bắc, nhưng éo le thay chính họ lại là những kẻ đă đánh thắng Miền Nam. Không phải chỉ riêng cô, những người từ hải ngoại về thấy thế, nghĩ thế, mà cả những người miền Bắc cũng nghĩ thế, đau đớn mà thấy thế. Biết ra nỗi oan trái này th́ mọi sự đă quá muộn màng. Bởi thế hầu như những cuộc trùng phùng của kẻ ở người đi, từ Nam ra Bắc, đâu đâu cũng ngập những hàng nước mắt. Trong tâm trạng đó cô và con trai của cô cũng đă thương sót, hoà ḿnh vui chơi với những đứa trẻ không nhà, vơ đầu đường xó chợ ở Việt Nam. Những đứa trẻ chỉ có một ao ước đơn là được ăn một bữa cơm no. Biết thế, cô như phần đông những người Việt nơi hải ngoại, đă tằn tiện, chắt bóp để cưu mang thân quyến. Và khi người cộng sản Việt Nam, nh́n ra sự sai lầm của họ, họ “ mở cửa”, đất nước đă đón nhận bao nhiệu là cơ may, là của cải từ bốn phương đổ về, trong đó có biết bao nhiêu là mồ hôi và nước mắt của những người xa xứ chúng ta. Và hơn ai hết, những tham ô, truỵ lạc khủng khiếp lại chính là những người cộng sản, có  cả những căn bệnh trầm kha, HIV trước đây chỉ thấy ở những nơi được coi là đồi trụy của xă hội tư bản. Và nhiều vấn đề xă hội phiền hà khác cũng được tác giả nói đến, trộn lẫn những nỗi niềm của cô Dung, cô Sữa suốt bao năm dài, với bao nhiêu là khổ lụy trùng hợp với  sự hiện hữu của Việt Nam Cộng Hoà từ ngày thành h́nh đến khi sụp đổ. Từ đó, một cách t́nh cờ, người đọc nghĩ rằng : cô Sữa xinh đẹp và ngây thơ kia, phải chăng chính là h́nh ảnh trù phú và ngay thẳng của Việt Nam Cộng Hoà đă phải đối đầu với những gian manh, lừa lọc của cả bạn lần thù ? Phải chăng đó chính là điều mà tác giả muốn kư thác, chia xẻ cùng độc giả.

 

Với cô Dung, cô Sữa, biết bao éo le, khác biệt lồng trong những cuôc t́nh. Nhưng mối t́nh đầu của cô với người thanh niên cùng xóm, sau bao chia lià, họ đă mừng mừng, tủi tủi gặp lại được nhau ở miền đất tự do này. Họ đă bồi hồi đến với nhau như một cuộc trở về, xoá đi hết những phiền hà. Họ yêu nhau như những ngày non trẻ. Nguời đàn ông sẵn sàng từ bỏ gia đ́nh hiện có, bỏ vợ con để quyết xây dựng lại, chung sống với người t́nh xưa. Nhưng Ngọc Dung đă nghĩ khác. Cô nghĩ đến người vợ sẽ mất chồng, những đứa con sẽ mất cha. Sau nhiều suy tư, cô đă t́nh cờ t́m được nguồn an ủi khi đến với tôn giáo, an vui với t́nh thương yêu của Chúa, với những người đồng đạo. Cô nghĩ được như thế phải chăng cô Sữa, hay Ngọc Dung ngày nào giờ đă không c̣n trẻ nữa. Những sôi nổi một thời đă theo thời gian mà ch́m lắng. Cô như một con thuyền đă miệt mài trôi trên mặt sông, từ nơi khởi nguồn, qua bao thác gềnh, cho đến khi con sông đă sắp tan vào ḷng biển rộng. Người đàn bà ấy như bao nhiêu người đàn bà cùng lứa tuổi, đă cùng kinh qua những đoạn đường gian khó nhất trong ḍng sinh mệnh của dân tộc chúng ta. Những buổi ngồi soi gương, người đàn bà thời đại ấy đă thấy là da ḿnh không c̣n  mịn màng, sáng tươi như những ngày son trẻ, tóc đă có những lọn điểm sương. Tuổi già đang đến, và người đàn bà ấy đă nói :  “ Tôi đă yên phận, đă thấy được hạnh phúc cuối cùng, cũng như tôi đă đi hết một ḍng sông”.

 

Cuốn sách đă hết ở những hàng chữ này. Tôi đă khép sách lại mà như thấy quanh ḿnh mênh mang gió thổi, và trước mặt là một vùng biển xanh trong êm đềm. Là người bạn đă cùng có với anh những ngày dài trên sông nước quê nhà, tôi c̣n thấy nhiều điều khác nữa. Tôi thấy trong những trang sách, những gịng chữ của anh vẫn ngời lên những h́nh ảnh, ngập tràn những kỷ niệm về quê hương, về bè bạn, về những con sông mà chúng tôi đă ngày đêm tuần tiễu, nơi mà bao nhiêu bè bạn của chúng tôi đă nằm xuống, ch́m sâu. Nhưng gành đá đẹp rất hoang sơ, một thời nào đó của bờ biển Việt Nam mà trên các trục tuấn dương chúng tôi đă đi qua hay cho tàu ghé lại nghỉ chơi. Ở những đoạn văn như thế, có khi là của anh, có khi là của những bạn cùng khoá mà anh yêu quư, anh đă khéo léo ghép vào, làm cho cuốn sách càng trở nên phong phú. Sự nhắc nhở ấy đồng thời c̣n cho chúng ta thấy ở anh là một con người đôn hậu, một người đi biển, xa biển mà chẳng thề nào quên những ngày lênh đênh, gian nan xa cũ.

Với trí nhớ ấy, với tâm t́nh ấy, chắc chắn anh không thể nào quên cảnh huống bi thương có một không hai trong thảm nạn của thuyền nhân đă xẩy đến với chính gia đ́nh anh. Kỷ niệm ấy anh đă ghi ở trang đầu sách :

“ …Kính dâng hương hồn vợ và bốn con cùng 53 thuyền nhân vượt biên ngày 7 -5-1983 tại cầu Chữ Y, Sài G̣n”.

Thời gian này là cao điểm của phong trào vuợt biển. Hàng ngày nơi hải ngoại chúng ta nhận đưoc những tin buồn từ vùng biển dữ dội về. Hải tặc và những bất an về sóng gió biển khơi, về t́nh thương của con người mỗi lúc mỗi thu hẹp lại. Nhưng nào có ai hay một tin khủng khiếp, Việt Công đă xả súng bắn thẳng vào chiếc ghe vượt biên ở cầu Chư Y, ngay cửa ngơ Sá G̣n, làm gần 100 người thiệt mạng, máu nhuộn đỏ cả một khúc sông và nhiều ngày sau xác người vẫn chưa vớt hết. Cả Sà́ G̣n kinh hoàng. Các hăng thông tấn lớn trên thế giới như BBC, VOA đầu đồng loạt loan tin và rất ngỡ ngàng về sự giă man, tàn bạo của người Cộng Sản Việt Nam đối với chính những đồng bào của họ. Tại sao phải bắn như thế? Khi đă phát giác chiếc ghe vượt biện trên sông, bắt giữ lại đâu có khó khăn ǵ. Tôi cũng đă lặng đi rất lâu khi nghe tin này mà có đâu ngờ sự việc tàn bạo, kinh khiếp ấy đă xẩy ra cho gia đ́nh người bạn cùng khoá với tôi là anh Hoàng đ́nh Báu. Một cựu sĩ quan Hải Quân, cựu hạm trưởng, sau khi ra tù, đă được người ta móc nối để đem tàu ra khơi. Việc mua băi không ṣng phẳng sao đó, bờ tả, bở hữu tranh ăn, công an đă nhẫn tâm xả súng bắn thẳng vào con thuyền vượt biên ngay ở cửa ngơ Sài G̣n. Trong bao nhiêu trang sách đă in, Hoàng đ́nh Báu chưa nhắc đến nỗi đau này. Bây giờ, ng̣i bút đă thuần, ḷng anh đă lắng, tôi tin rằng một ngày nào đó không xa, chúng ta sẽ được đọc, được thấy Hoàng đ́nh Báu tŕnh bày câu chuyện của gia đ́nh anh, một câu chuyện bi thương nhất, tàn bạo nhất của thảm nạn thuyền nhân. Một nỗi bất hạnh đắng  cay, hậu quả của một cuộc chiến tranh oan nghiệt đă xẩy đến trên quê hương ḿnh mà kẻ chủ mưu tàn độc không ai khác là chính những người cộng sản Việt Nam. Dù có gian ngoan cách nào, làm sao kẻ giết người man dợ kia có thể phủi tay chối căi. Nhân chứng c̣n đó là anh., Tam Giang Hoàng đ́nh Báu.

 

Chúng ta hăy gắng chờ.

Và bây giờ chúng ta hăy để ḷng thanh thản để cùng cô Ngọc Dung, cô Sữa đi theo những đoạn đường của đời cô, như con thuyền đă lần trôi theo con nước, Đi Hết Một Ḍng Sông.

 

15/4/07

 

(1) Những câu viết hoa là tên những chương, đoạn trong cuốn sách.

 

Free Web Hosting